Chữa bệnh huyết áp thấp, Cảm hàn mãn

03:03 |
Chữa bệnh huyết áp thấp, Cảm hàn mãn

Bệnh huyết áp thấp: thường do mãn cảm hàn gây nên hoặc cơ thể bị suy nhược, bị các bệnh mãn tính trong người, dương khí suy yếu gây nên.

- Cảm hàn mãn: có thể do cảm hàn sinh ra, nhưng phần lớn do quá trình cơ thể suy yếu nhiễm cảm sinh ra, khi bị cảm hàn biến chứng cơ thể lạnh nên sợ quạt, gió, nước lạnh, khí huyết lưu thông kém gây tắc sinh nhức mỏi toàn thân, hay bị trúng gió, phụ nữ hay bị đau bụng, kinh vén cục, huyết áp bị tụt, tim đập không đủ máu nên tức ngực, ngập tim, lượng máu lên não không đủ, gây choáng, đau đầu, buốt, khan hay bị ho, mơ hoảng hốt, mất ngủ, lạnh giá tay chân, người thiếu máu ốm miệt luôn như giả vờ.

- Cảm hàn: do cơ thể không thích nghi kịp với sự thay đổi đột ngột của ngoại cảnh, như nhiễm lạnh, nước, sương gió mà sinh bệnh, người bị rét run, hoặc lúc nóng, lúc lạnh nhưng phải đắp mền, sợ gió, sợ nước lạnh, nằm co ro, môi tím tái vì lạnh, thức ăn khó tiêu, dễ nôn, nhức mỏi toàn thân

- Sốt thương hàn: bên trong thực bệnh nên rất lạnh, bên ngoài giả bệnh nên đo nhiệt độ cao.Chỉ cần dung thuốc ôn nóng bên trong ấm lên bên ngoài hạ nhiệt sẽ hết bệnh. Nhưng do nhiệt độ bên ngoài cao dù đang rất lạnh phải đắp chăn, thầy thuốc cho bệnh nhân uống thuốc hạ nhiệt, vô tình lạnh bên trong lại được kích lạnh hơn dẫn đến bệnh kéo dài sinh mãn tính.

Thuốc số 2: chữa huyết áp thấp, cảm hàn, cảm hàn mãn.

Tác dụng của thuốc: là thuốc bổ dương, kiêm bổ âm, thuốc ôn ấm, an thần, định chí, bổ tim, não, lý khí, lý huyết, thuốc bổ phế, chóng ho, thông kinh, huyết mạch, trục hàn tăng huyết áp

. Khi bị cảm thương hàn, sốt thương hàn uống 1-2 ngày là khỏi

. khi bị mãn thương hàn, huyết áp thấp: uống thuốc số 2 và số 3 từ 2-8 gói mỗi loại, hết triệu chứng cảm hàn mãn.

Khi mới bị cảm hàn, sốt thương hàn, mà chưa kịp lấy thuốc thì lấy 100gam gừng nướng lên, xát nhỏ sắc uống( nếu có quế, hồi, vỏ cam hoặc quýt cho vào 1 ít thì tốt), không có thì lấy mình gừng sắc đặc cho đường vào uống nhiều lần bệnh có thể khỏi hoặc giảm.

Đang bị bệnh cấp: cảm hàn hay sốt thương hàn, không có điều kiện lấy thuốc số 2 của tôi thì dùng bài thuốc sau đây ( ra tiệm thuốc đông y lấy 1-3 thang thường là khỏi): thương truật, hậu phác, ngủ vị tử, mộc hương, can khương, trần bì, táo nhân(sao đen), bạch phục linh, ma hoàng căn, quế, cam thảo, chích kỳ, bạch truật, bán hạ, gừng sống, sơn thù, sa nhân, mạch nha, kỷ tử, cát cánh, xuyên khung, đại hồi, mạch môn. Mỗi loại15gam sắc đặc uống, chia uống thành nhiều lần trong ngày.

Nếu bị mãn thương hàn, huyết áp thấp phải uống thuốc số 2 mới khỏi, kết hợp với số 3 làm cho khỏe nhanh hơn.

Tôi đã chữa cho nhiều người bị huyết áp thấp, mãn cảm hàn khỏi bệnh. Khi khỏi sẽ hết các triệu chứng của cảm hàn mãn, huyết áp tăng lên ổn định, thường khỏi hẳn không bị tái phát lại.

thuocbackimtuan.com
Read more…

Phòng ngừa bệnh tim mạch

13:02 |
Bệnh tim mạch tuy nguy hiểm nhưng lại hoàn toàn có thể phòng ngừa được nếu biết kiểm soát tốt các yếu tố nguy cơ, thay đổi thói quen xấu, chú trọng tới chế độ dinh dưỡng, lối sống lành mạnh và tập thể dục mỗi ngày…
khỏe đẹp
Kiểm soát các yếu tố nguy cơ để có được một trái tim khỏe mạnh. Ảnh: internet
Kiểm soát các yếu tố nguy cơ
Các yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch là tập hợp những điều kiện về di truyền, giới, thói quen sinh hoạt, ăn uống… ảnh hưởng đến khả năng mắc bệnh tim mạch của mỗi người. Chẳng hạn như nam giới có nguy cơ bị lên cơn đau tim cao hơn phụ nữ khi ở độ tuổi còn trẻ. Tuy nhiên, nữ giới sau tuổi mãn kinh thì nguy cơ mắc bệnh tim mạch lại tăng lên đáng kể. Những người có tiền sử gia đình bị bệnh tim mạch thì sẽ có nguy cơ bệnh tim mạch cao hơn những người không có tiền sử gia đình bị bệnh tim mạch...
Lối sống và thói quen trong sinh hoạt có thể dẫn tới tình trạng chỉ số cholesterol và huyết áp cao, thừa cân, béo phì, bệnh tiểu đường… vốn là những yếu tố nguy hiểm và làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch.
Hút thuốc lá sẽ làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch cao gấp 2-4 lần so với không hút thuốc, đồng thời cũng làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch cho những người xung quanh khi họ hít phải khói thuốc. Tuy nhiên sẽ không bao giờ là quá muộn để bỏ thuốc lá vì 24h sau khi bỏ thuốc lá, nguy cơ đau tim của bạn sẽ bắt đầu giảm.
thuốc lá
Hút thuốc lá làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch lên 2-4 lần. Ảnh: internet
Điều chỉnh thói quen sinh hoạt và lối sống sẽ giúp phòng ngừa và làm giảm nguy cơ bệnh tim mạch. Những người có yếu tố nguy cơ cao nếu biết phòng ngừa, có thể sẽ không mắc bệnh tim mạch; ngược lại, những người không có yếu tố nguy cơ cao về di truyền và giới nhưng có lối sống tĩnh tại, lười vận động, ăn uống không khoa học thì vẫn có thể mắc bệnh tim mạch.
Bảo vệ trái tim ngay từ bây giờ
Nếu bạn có nguy cơ cao mắc bệnh tim mạch, hãy đến gặp bác sĩ chuyên khoa để được khám và tư vấn một chiến lược cụ thể để kiểm soát các nguy cơ. Tuy nhiên, chìa khóa cho việc phòng ngừa bệnh tim mạch nói chung là có một lối sống lành mạnh, bao gồm một chế độ dinh dưỡng hợp lý, không thuốc lá, hạn chế rượu bia và tập thể dục đều đặn mỗi ngày.
cá
Cá là nguồn đạm tốt cho tim. Ảnh: internet
Chỉ cần một thay đổi nhỏ trong thói quen dinh dưỡng, sẽ tạo nên những cải thiện đáng kể cho sức khỏe tim mạch. Vì vậy, bạn hãy bắt đầu bằng việc ăn nhiều ngũ cốc nguyên hạt, rau củ, đậu và trái cây và sử dụng dầu thực vật thay cho mỡ động vật để trái tim khỏe mạnh. Dầu thực vật chiết xuất từ đậu nành, ôliu, hạt cải, hướng dương…rất giàu các loại axit béo tốt như omega 3 - 6 - 9, giúp cải thiện chỉ số cholesterol. Bạn cũng đừng quên ăn cá ít nhất vài lần mỗi tuần bởi đây là nguồn đạm rất tốt cho tim.
Ngoài ra, không hút thuốc, kiểm soát huyết áp cao, lượng cholesterol, cân nặng và bệnh tiểu đường. Nếu bạn muốn uống rượu, hãy uống rượu vang đỏ nhưng ở mức độ vừa phải, không nhiều hơn một ly mỗi ngày cho nữ giới và 2 ly một ngày cho nam giới. Bên cạnh đó, hãy thay đổi lối sống tĩnh tại, lười vận động và dành ra ít nhất 30 phút/ ngày để tập thể dục. Để thực hiện được những thay đổi này không khó, chỉ cần bạn kiên trì và biết tìm kiếm sự giúp đỡ từ bạn bè và gia đình - những người luôn mong muốn những điều tốt đẹp nhất cho bạn.
tập thể dục
Dành ra ít nhất 30 phút/ ngày để tập thể dục. Ảnh: internet
Nếu bạn đã trải qua cơn đau tim, những lời khuyên trên vẫn hữu ích cho bạn. Hãy tránh thuốc lá, hoạt động nhiều hơn, cẩn trọng với những đồ ăn thức uống hàng ngày, bạn có thể tạo ra một sự thay đổi lớn đối với sức khỏe tim mạch và cơ thể. Và quan trọng là phải hỏi ý kiến bác sĩ để có những lời khuyên thiết thực cho chế độ ăn uống và luyện tập phù hợp với thể trạng của bạn lúc này.
Theo Web MD
Read more…

Những thực phẩm tốt cho bệnh tim mạch

13:00 |
Những thực phẩm tốt cho bệnh tim mạch. Sau đây là 20 loại thực phẩm có thể loại bỏ tắc nghẽn trong động mạch và duy trì một trái tim khỏe mạnh.

Nghệ

Xơ vữa động mạch là khi các động mạch cứng lại do bị viêm. Nghệ có đặc tính kháng viêm. Gia vị có lợi ích trong việc giảm bệnh tim mạch. Chất curcumin được tìm thấy trong củ nghệ làm giảm viêm trong các động mạch ngoại biên.

20 thực phẩm cực tốt cho tim mạch, Sức khỏe đời sống, Benh tim mach, thuc pham tot cho nguoi benh tim mach, thuc pham tot cho nguoi bi tim mach, suc khoe, bao
Nghệ có đặc tính kháng viêm

Cam

Cam rất giàu vitamin C có thể chống lại cảm lạnh thông thường. Nhưng loại quả này cũng có thể chống lại các bệnh tim. Cam chứa chất xơ pectin làm giảm cholesterol, vitamin C tăng cường các bức tường của động mạch giảm tắc nghẽn trong động mạch. Nước cam có thể cải thiện chức năng của các mạch máu.

20 thực phẩm cực tốt cho tim mạch, Sức khỏe đời sống, Benh tim mach, thuc pham tot cho nguoi benh tim mach, thuc pham tot cho nguoi bi tim mach, suc khoe, bao
Cam rất giàu vitamin C có thể chống lại cảm lạnh thông thường.

Lựu

Đây là loại trái cây giàu chất chống oxy hóa cải thiện các bức tường của động mạch. Lựu đặc biệt tốt cho tim nhờ sự hiện hữu của chất chống oxy hóa. Lựu đốt cháy và sản xuất nitric oxide để cải thiện mức độ máu chảy vào động mạch.

Ngũ cốc nguyên hạt

Kết hợp ngũ cốc nguyên hạt trong của chế độ ăn uống để giảm cholesterol. Ngũ cốc nguyên hạt chứa các sợi chất xơ giúp động mạch không bị tắc nghẽn.

20 thực phẩm cực tốt cho tim mạch, Sức khỏe đời sống, Benh tim mach, thuc pham tot cho nguoi benh tim mach, thuc pham tot cho nguoi bi tim mach, suc khoe, bao
Ngũ cốc nguyên hạt chứa các sợi chất xơ giúp động mạch không bị tắc nghẽn.



Hải sản có lợi cho con người với nhiều mức độ khác nhau như: sức khỏe tâm thần, não, thị lực, xây dựng cơ bắp và phụ nữ khi mang thai. Omega-3 bảo vệ trái tim của bạn và làm giảm nồng độ triglyceride máu. Để làm sạch động mạch bạn hãy chọn cho mình các loại cá giàu Omega 3.

Bông cải xanh

Bông cải xanh có nhiều protein tốt cho người ăn chay. Bông cải xanh có chứa vitamin K có lợi cho sự hình thành xương. Vitamin K cũng bảo vệ các động mạch khỏi bị hư hại. Ngoài ra vitamin K, bông cải xanh rất giàu chất xơ có thể làm giảm cholesterol và cao huyết áp.

Các loại hạt

Hạnh nhân, đậu phộng, quả óc chó, hạt dẻ là loại hạt thân thiện với trái tim. Các loại hạt chứa vitamin E là bức tường bảo vệ động mạch. Các loại hạt cũng chứa các sợi giúp làm giảm cholesterol trong máu.

Dầu ô liu

Dầu ô liu được biết có lợi ích sức khỏe, nó là loại dầu tốt nhất để ngăn chặn một gia tăng của cholesterol trong máu. Bên cạnh cholesterol, dầu ô liu cũng có thể làm giảm nguy cơ huyết áp cao.

Quế

Gia vị này mang lại cho con người rất nhiều lợi ích sức khỏe. Quế được sử dụng như một loại gia vị cũng như cho các món tráng miệng. Gia vị đa năng này làm giảm chất béo trong máu ngăn chặn tắc nghẽn trong các mạch máu.

Cà phê

Mặc dù uống cà phê có thể có ảnh hưởng tới sức khỏe nhưng nó cũng có thể cải thiện sức khỏe của bạn nếu bạn uống cà phê điều độ. Nếu bạn uống 4 tách cà phê mỗi ngày có thể cải thiện sức khỏe tim mạch của bạn.

Pho mát


Điều quan trọng của pho mát là làm giảm cao huyết áp để tránh các bệnh đột quỵ liên quan đến tim. Pho mát giàu canxi để làm giảm huyết áp.

Trà

Trà có thể làm tăng sự trao đổi chất, nó cũng có thể cải thiện sức khỏe tim mạch. Trà có chứa một chất chống oxy hóa gọi là catechin, nó giống như một lá chắn cho thành động mạch. Chất chống oxy hóa này cũng ngăn ngừa cục máu đông có thể gây tử vong.

Dưa hấu

Dưa hấu tuyệt vời cho chăm sóc da và trong việc giảm cân. Acid amin được tìm thấy trong dưa hấu giúp giảm cao huyết áp . Nhưng dưa hấu cũng có chứa oxit nitric có thể mở ra các mạch máu cải thiện dòng chảy của máu.

Rau bina

Đây là một thực phẩm giúp bạn chống lại bệnh tim. Rau bina chứa carotene có thể ngăn chặn cholesterol khỏi bị vón cục trong các động mạch. Rau bina có thể làm giảm cao huyết áp.

Cà chua

Cũng như trái lựu, chè, cà chua cũng chứa chất chống oxy hóa bảo vệ các thành động mạch. Trong cà chua, lycopene giữ cholesterol ở mức độ thấp.

Đậu

Đậu có chứa axit folic và chất xơ có thể ngăn chặn các động mạch khỏi bị bít. Đậu cũng là một nguồn tốt của carbohydrate.

Táo

Như cam, táo quá chứa chất xơ có tên pectin hấp thụ cholesterol trong máu. Ăn táo là một cách tuyệt vời để giảm cholesterol trong máu.

Bưởi

Các bưởi lòng đỏ rất giàu chất chống oxy hóa, chất lycopene trong đó cũng có trong cà chua. Bưởi đỏ giúp ngăn ngừa tác hại cho động mạch của bạn. Bưởi cũng là loại trái cây rất tốt cho bệnh nhân tiểu đường.

Ngô

Bảo vệ động mạch của bạn bằng cách tiêu thụ ngô. Ngô có chứa chất xơ giúp bảo vệ động mạch của bạn bằng cách đưa cholesterol ra ngoài.

Tỏi

Tỏi giúp ngăn ngừa tích tụ của cholesterol quá nhiều trong máu. Các thioallyls hợp chất có trong tỏi chiến đấu chống lại các cục máu đông.
Theo Dân Việt
Read more…

Lương y: Hồ Kim Tuấn

12:58 |


Lương y: Hồ Kim Tuấn

Là người kế thừa dòng họ làm thuốc đông y lâu đời, ông nội: Hồ Kim Sương, Danh y: Tú Xương, là một lương y nổi tiếng vùng đất Thanh Hóa, hướng nghiệp làm thuốc từ nhỏ nhưng với tính thích mạo hiểm, ưa khám phá Tôi đã trở thành phi công lái máy bay phản lực cơ với cấp hàm Thượng Tá, sĩ quan cao cấp Quân Đội đến giờ.

Với lòng đam mê nghề thuốc thích khám phá những bệnh nan y - mãn tính, bệnh khó chữa. Mất rất nhiều thời gian, công sức, sưu tầm, nghiên cứu, ứng dụng chữa bệnh, cả phỏng đoán và có khi tình cờ gặp may khi chữa bệnh này lại khỏi cả bệnh khác. Tôi đã tìm ra được phương pháp và các bài thuốc chữa thành công nhiều loại bệnh mãn tính, có cả một số bệnh nan y.

Được hội Đông Y - TP.HCM, kết hợp với trường ĐH Y Khoa Phạm Ngọc Thạch ký cấp bằng Lương y số : 738/ĐHYPNT vào ngày 17/4/2009, trùng ngày sinh nhật lần thứ 47 của tôi, chứng chỉ hành nghề số: 1654/CCHN-YHCT do sở Y tế TP.HCM cấp, giấy phép kinh doanh số: 41N8013019, thẻ hội viên Đông Y Việt Nam số: 51/1591/HV.

Thuốc tôi chế là loại thuốc hoàn viên, các loại thuốc đều trong danh mục sử dụng thuốc đông y, không có thuốc Tây lộn vào. Tôi chế thuốc hoàn viên Vì: để tiện sử dụng và bảo quản, và một số hoạt chất trong thuốc chữa khỏi được một số bệnh mãn tính như: Viêm xoang, viêm mũi dị ứng, vôi hóa, thoát vị đĩa đệm, viêm đa khớp dạng thấp, các khối u hạch, các loại bệnh do nấm, vi rút, viêm nhiễm... Khi qua nhiệt độ cao của thuốc đun sôi sẽ giản nở, mất sự thẩm thấu của thuốc đến vị trí bệnh cũng như mất tác dụng chữa bệnh. Nên phải chế bằng thuốc hoàn viên mới khỏi.

Hơn 30 năm vừa nghiên cứu, khám và chữa bệnh, Tôi đã chữa cho trên 50.000 bệnh nhân ( Hiện số bệnh nhân lưu sổ có tên, địa chỉ, số điện thoại trên 25.000). Số còn lại được gia đình, người quen , người làm từ thiện, một số Lương y lấy cho bệnh nhân trên phạm vi cả nước.

Đa phần các bệnh nhân tôi chữa đều mắc các bệnh mãn tính, 1 số người bị bệnh nan y, bệnh nhân đã dùng qua nhiều loại thuốc khác nhau nhưng ít hiệu quả hoặc không khỏi, trong số đó có nhiều người đã tuyệt vọng sống chung với bệnh. Qua uống thuốc của tôi 1 thời gian theo loại thuốc và liều lượng tôi đã ghi ( Loại bệnh và thuốc chữa), tỉ lệ khỏi bệnh rất cao hoặc cũng thuyên giảm bệnh rõ rệt, tỉ lệ không khỏi rất thấp. Khi khỏi bệnh ít trường hợp tái phát lại.

Tiền thuốc và bệnh có khỏi hay không là nỗi ám ảnh của bệnh nhân và người nhà bệnh nhân, ít cơ sở, nhà thuốc nào dám đề cập tới. Giá thuốc của tôi từ 01/05/2012 là 200 ngàn/gói, mỗi gói uống trong vòng 10-18 ngày tùy vào từng loại thuốc. Thông cảm chia sẽ với người bệnh Nan Y: viêm cầu thận, xơ gan cổ trướng, ung thư, tôi tài trợ tiền lấy thuốc từ 20-100% tùy điều kiện từng bênh nhân. Và những người trên 60 tuổi, thương binh khuyết tật, sư chùa, người làm từ thiện, những người có hoàn cảnh khó khăn,người bệnh nặng Tôi bán giá thuốc 180 ngàn/gói hoặc giảm hơn tùy từng hoàn cảnh.

Một số loại thuốc xoang, dạ dày, đại tràng tôi bảo hành thuốc. Nếu uống tối đa 10 gói mà chưa khỏi hoặc khỏi mà tái phát lại trong vòng 15 tháng tôi sẽ chữa bằng khỏi khi lấy thuốc không phải trả tiền. Những loại bệnh khác tôi nói lượng thuốc hoặc thời gian chữa bệnh có thể khỏi cho bệnh nhân biết. Những trường hợp nào tỉ lệ chữa khỏi thấp hoặc bệnh nào chỉ thuyên giảm hay kéo dài tôi trả lời bệnh nhân ngay.

Thuốc đã được bệnh nhân trên cả nước tiên dùng, bệnh nhân đến với tôi ngày một đông hơn do tính hiệu quả chữa khỏi bệnh cao, chi phí chữa bệnh thấp cho bệnh nhân, kể cả những bệnh nhân nghèo. Và cũng như uy tín ngày một cao của nhà thuốc trên thị trường.

-------------------------
Nhà thuốc bắc gia truyền Kim Tuấn
SN: A75/6E/17 Bạch Đằng P.2 Tân Bình Tp.hcm.
Đt: 0838486280 - 0918413280 - 0918971460
Read more…

Thầy Thuốc Của Bạn

12:51 |

Sinh ra từ dòng họ làm thuốc Đông y lâu đời, được ông nội Hồ Kim Sương, danh y là Tú Sương, một lương y nổi tiếng vùng đất Thanh Hoá, hướng nghiệp làm thuốc từ nhỏ. Nhưng với tính thích mạo hiểm, ưa khám phá tôi đã trở thành phi công lái máy bay phản lực cơ đến giờ với cấp hàm thượng tá sĩ quan cao cấp quân đội.

Vì không có thời gian học chính quy, nhưng với lòng đam mê nghề thuốc thích khám phá những bệnh mãn tính, nan y và tìm ra những phương thuốc chữa. Sau này có đieu kiện, tôi đã học và lấy được bằng lương y số 738/ĐHYPNT vào ngày sinh nhật lần thứ 47: 17/4/2009 do Trường Đại học Y Phạm Ngọc Thạch kết hợp Hội

Đông Y TPHCM cấp, chứng chỉ hành nghề số: 1654/CCHN-YHCT do Sở Ytế TPHCM cấp và Giấy phép kinh doanh số 41N8013019. Thẻ hội viên Đông y Việt Nam số 51/1591/HV.

Quá trình của thời gian, ngoài sách thuốc của dòng họ để lại, là quá trình sưu tầm nghiêm cứu sách báo, cây thuốc những gì liên quan tới bệnh và thuốc là quá trình ứng dụng chữa các bệnh bằng thuốc Đông y.

Đông Y có nhiều học thuyết. Thuyết âm - dương: bệnh là sự rối loạn làm mất cân bằng âm, dương. Muốn khỏi bệnh phải điều chỉnh âm dương trở lại vị trí cân bằng.

Thực tế lâm sàng còn rất nhieu bệnh mãn tính như: siêu vi, ung thư, thoái hoá, thấp khớp, thoát vị, suy tim, xơ gan, hội chứng thận hư, viêm xoang, tiểu đường, huyết áp cao, hen suyển, huyết áp thấp. Mồ hôi tay chân, u nang vú, nhân xơ tử cung, nội mạc tử cung, u nang buồng trứng, viêm đa khớp dạng thấp – hoại tử khớp, thoát vị đĩa đệm, vẩy nến, lưu – sảy thai, Lupus ban đỏ, dạ dày HP dương tính, đại tràng mãn.... Thuốc chữa nó đang còn là vấn đề nan giải.

Gần 30 năm qua tôi đã cố đi tìm nguyên nhân của sự phá vỡ cân bằng (nguyên nhân bệnh) và tìm phương pháp thiết lập lại sự cân bằng đó (tìm phương chữa bệnh).

Quá trình nghiên cứu của tôi gặp vô số những trở ngại và thất bại. Đến giờ tuy tích luỹ nhiều kinh nghiệm hơn nhưng gặp bệnh nan y, hiểm nghèo, bệnh khó, ít gặp tôi vẫn thường thất bại.

Sự thất bại không làm tôi nản chí mà càng kích thích tôi đi tìm lời giải đến cùng dù mất nhiều thời gian, công sức cũng như tien bạc. Vì tôi vẫn có niem tin sẽ tìm ra được phương thuốc chữa (có bệnh ắt có thuốc trị bệnh). Còn nếu không thành công tôi vẫn không buồn vì năng lực của mình chỉ giới hạn có thế và hy vọng những thay thuốc khác với hướng nghiên cứu của riêng mình sẽ tìm ra phương thuốc chữa.

Sự nghiên cứu của tôi cũng mang lại một số thành công: chữa được nhieu bệnh thông thường mãn tính và một số loại bệnh nan y tôi đã chữa khỏi cho bệnh nhân, đã chế ra được 18 loại thuốc hoàn viên, chữa hiệu quả, tỉ lệ khỏi bệnh cao chi phí chữa bệnh thấp, ít tái phát, an toàn, ít gây phản ứng phụ cùng nhieu bài thuốc sắc hiệu quả.

Vì công việc không có nhieu thời gian để cắt thuốc chén sắc, các bài thuốc tìm ra khá hiệu quả, phối hợp vị thuốc trong bài thuốc khá phức tạp, các bài thuốc tôi đã sử dụng chữa bệnh hiệu quả, nếu để lại cho riêng mình mà ít sử dụng thì rất phí. Được sự yêu cầu của báo Kinh Tế Nông Thôn cuối tuan tôi đã cho đăng 18 bài thuốc sắc trên báo này liên tục từ số báo 25 đến số 43, trên trang 12 năm 2007. Mong sao những bài thuốc của tôi có thể giúp được ai đó khỏi bệnh, mà trước đó đã dùng những loại thuốc khác không hết bệnh

Thầy Thuốc Của Bạn | Đông Y Gia Truyền Kim Tuấn-thuoc.jpg

Thầy Thuốc Của Bạn | Đông Y Gia Truyền Kim Tuấn-dongykimtuan-dspl.jpg
Thầy Thuốc Của Bạn | Đông Y Gia Truyền Kim Tuấn-thuoc1.jpgThầy Thuốc Của Bạn | Đông Y Gia Truyền Kim Tuấn-thuoc2.jpg

Thầy Thuốc Của Bạn | Đông Y Gia Truyền Kim Tuấn-thuoc3.jpgThầy Thuốc Của Bạn | Đông Y Gia Truyền Kim Tuấn-thuoc4.jpg

Thầy Thuốc Của Bạn | Đông Y Gia Truyền Kim Tuấn-thuoc5.jpgThầy Thuốc Của Bạn | Đông Y Gia Truyền Kim Tuấn-thuoc6.jpg


PHƯƠNG PHÁP CHỮA CÁC BỆNH MÃN TÍNH - NAN Y

Để lập lại sự cân bằng, tôi tuân thủ theo một phương pháp nghiên cứu tìm ra bài thuốc, ứng dụng chữa bệnh theo quy trình sau:

Nguyên nhân và tác động của sự mất cân bằng

• Bệnh thuộc mùa vùng nào, bệnh xâm nhập vào cơ thể theo con đường nào.
• Mức độ nguy hiểm và ảnh hưởng của bệnh đối với cơ thể.
• Phản ứng của cơ thể khi mới bị và thành mãn tính.
• Cơ quan, tạng, phủ, đường kinh nào ảnh hưởng đầu tiên.
• Sự lây lan tiếp theo trong cơ thể.
• Triệu chứng cụ thể tác động lên cơ thể mà người bệnh cảm nhận được.

Phương pháp lập lại sự cân bằng

Xác định phương pháp chữa: Phương pháp của tôi chủ yếu là dùng thuốc Đông y: bằng thuốc viên hoàn và thuốc sắc.

Để ngăn chăn bệnh, bài thuốc phải đáp ứng:

• Thuốc phải được lưu dẫn đến vị trí bệnh.
• Thuốc phải đủ mạnh để trấn át được các tổn thương, các triệu chứng bất thường và các vùng ảnh hưởng của bệnh.
• Cơ cấu ổn định bệnh và phục hồi trong quá trình dùng thuốc.

Chọn vị thuốc: Khi uống thuốc vào cơ thể, thuốc được hấp thu qua máu ve gan, tuần hoàn qua não ve lại gan. Từ các hoạt chất ban đầu trong thuốc, gan sẽ tạo ra các hoạt chất tương thích, từ hoạt chất này được máu đưa tới vị trí bệnh. Mỗi loại bệnh là mỗi loại thuốc khác nhau hoặc kết hợp một số loại thuốc lại mới đủ công hiệu chữa bệnh. Cũng có khi một loại thuốc có tác dụng trên nhiều loại bệnh.

• Chất lưu dẫn: để đưa thuốc đến được vị trí bệnh, mỗi loại bệnh sự lưu dẫn của thuốc khác nhau. Kích thích hoạt chất lưu dẫn từ gan, quyết định đến thành công của bài thuốc.

• Các vị thuốc: Tính đến hiệu quả trong chữa bệnh: công năng, sự tương tác giữa các vị, khả năng hấp thu và thải loại của từng bệnh.

Phương pháp bào chế: quyết định đến tăng, giảm hiệu quả của bài thuốc.

Liều lượng - thời gian uống - kiêng cử - những điều chú ý phù hợp nâng cao hiệu quả chữa, ít phản ứng phụ. Trong quá trình nghiên cứu và phỏng đoán của tôi, phan lý luận có thể còn nhieu điểm trống, chưa hợp lý, bất quy tắc, chưa có đủ khả năng chứng minh, giải thích được. Song qua thực hành chẩn đoán và đieu trị tôi tìm thấy sự liên quan của chúng, cũng như một số loại bệnh tình cờ chữa khỏi khi dùng thuốc kết hợp chữa bệnh khác.

Phương pháp chuẩn đoán bệnh:

Có nhiều phương pháp để đoán bệnh dựa vào các học thuyết đông y:

Học thuyết âm – dương: ta biết bệnh từ âm hay do dương cơ thể hàn – nhiệt để chỉnh. Học thuyết ngũ hành: 5 vận động phổ biến tác động sinh khắc lẫn nhau để xác định gốc bệnh, hành nào bị tác động. Học thuyết tạng tượng: sự liên quan giữa các tạng phủ để xác định tạng phủ nào bất thường, các học thuyết khí hoá, tam tài, quân thần, bát cương … đặc biệt là phương pháp tứ chẩn: vọng – văn – vấn – thiết (nhìn, ngửi, nghe giọng nói, tiếng thở, hỏi bệnh nhân và bắt mạch để đoán bệnh) và học thuyết kinh lạc: cơ thể gồm 6 hệ thống cơ quan, mỗi cơ quan là 1 cặp tạng phủ của nó (6 tạng âm: tâm – tâm bào – can – tỳ – phế – thận, tương ứng 6 phủ dương: tiểu trường – tam tiêu – đởm – vị , đại trường, bàng quang).

Mỗi tạng phủ có một đường kinh. Tạng là đường kinh âm – phủ dương. Mỗi đường kinh có 2 nhánh trái – phải (tạng: nhánh trái dương, nhánh phải âm, phủ: ngược lại). Trên mỗi nhánh của đường kinh đều có các ngũ du huyệt: mộc – hoả – thổ – kim – thuỷ ngoài ra còn có các huyệt: nguyên – lạc – lục tổng và các huyệt khác. Ngoài ra cơ thể có đốc mạch – nhâm mạch chạy phía sau và trước cơ thể. Trên đó có các du mộ huyệt, nhiều loại huyệt khác như hoa đà giáp tích, thập tuyên… khi ấn vào các du – mộ huyệt và các huyệt chẩn đoán, để phát hiện sự đau nhói khác thường của kinh bị bệnh.
Phương pháp chuẩn đoán theo Tây y: bằng các loại xét nghiệm, sinh hoá, chiếu, chụp, điện, nội soi, phản ứng… Ngoài ra mỗi loại bệnh đều có dấu hiệu biểu hiện đặc trưng bất thường trên cơ thể bệnh nhân.

Người thầy thuốc căn cứ vào các chuẩn đoán trên, cũng như kinh nghiệm nghề nghiệp để đưa ra chuẩn đoán chính xác, từ đó đưa ra phương pháp chữa tối ưu cho người bệnh.

Quan tâm sức khoẻ

Sức khoẻ tài sản quý giá nhất, khi còn khoẻ, không nên phung phí quá mức, khi có bất thường trong cơ thể một thời gian không hồi phục nên đi kiểm tra sức khoẻ. Mỗi loại bệnh có thể biểu hiện của dấu hiệu đặc trưng như thay đổi màu da, chất thải, vị trí đau nhức, nóng, sưng, phù, thâm, loét, chán ăn, sụt ký, căn cứ vào đó mà làm các xét nghiệm, chụp , chiếu, siêu âm… từng bệnh, từng vị trí cho phù hợp, đỡ tốn kém, mà phát hiện bệnh. Khám theo Đông y bằng bắt mạch, kiểm tra bất thường trên du, mộ huyệt, vị trí đau, cũng như dấu hiệu đặc trưng của từng loại bệnh, để tìm ra sự bất thường mà phỏng đoán bệnh.

Thầy thuốc giỏi, có đức là phải chuẩn đoán đúng bệnh, thời gian chữa khỏi nhanh, ít tốn kém nhất cho người bệnh, bệnh nào chữa lâu, tỉ lệ có thể khỏi, bệnh nào chỉ kéo dài, hoặc không khỏi cần cho bệnh nhân biết để quyết định có lấy thuốc hay không, hay giới thiệu đến thầy thuốc khác chữa tốt hơn.

Cũng có thầy thuốc đoán bệnh tốt, chữa hiệu quả, mà cố tình kéo dài, thuốc quá mắc. Khi bệnh khỏi thì mắc nợ. Cũng có thầy thuốc đoán được bệnh nhưng không biết chữa, hoặc đoán sai bệnh nhưng vẫn cứ chữa để lấy tiền, bệnh không khỏi mà có nguy cơ tăng nặng thêm.

Phòng bệnh


Cuộc sống vẫn tuân theo một quy luật bất biến: sinh – lão – bịnh – tử. Có những người bị bệnh sớm, đoản thọ, có những người trường thọ cao tuổi vẫn mạnh khoẻ, tai thính, mắt tinh, tiếng nói vang, răng chắc, tóc đen.

Ngày nay, cuộc sống đang phát triển, môi trường, ẩm thực, bệnh tật, cuộc sống thái quá nhiều khi có muốn nhưng cũng khó phòng tránh.

2 loại thuốc số 8 và số 14 có thể giảm bớt được bệnh tật, sống khoẻ thọ hơn nếu được dùng thường xuyên.

Thuốc số 8: giải độc gan và cơ thể làm tăng khả năng miễn dịch ít bị bệnh hơn.
Thuốc số 14: Chống rụng tóc, mọc lại tóc, bổ não, sáng mắt, tăng tuổi thọ: đây là loại thuốc bổ có tác dụng kháng oxi hoá tế bào ngăn cản sự lão hoá làm tuổi già đến chậm hơn. Thuốc bổ tinh, tuỷ, não làm sáng mắt, đẹp da, mọc lại tóc, uống lâu dài có thể đen lại phần tóc đã bạc, và cản trở sự bạc tóc mới làm tóc đen lâu hơn.
Người qua tuổi trung niên muốn lấy lại nhiệt tình uống thuốc số 12 và số 14.


Uy tín nhà thuốc

Tôi không nhớ đã đem niềm vui hạnh phúc bao nhiêu cặp vợ chồng sinh con, bao nhiêu người bị bệnh mãn tính đã lành mà cứ tưởng phải sống suốt đời cùng bệnh tật. Và nhiều người bị bệnh nan y sống trong tuyệt vọng đã khỏi, hoặc kéo dài sự sống. Rất nhiều người trong số đó tôi chưa từng gặp mặt, thuốc của tôi được bạn bè, người thân, gia đình lấy về hoặc chuyển qua bưu điện, còn lại đa phần tôi vẫn lưu lại tên, tuổi, địa chỉ, điện thoại. Bệnh nhân đến với tôi ngày một đông trên phạm vi toàn quốc. Tôi đã nghiên cứu và chế ra được nhiều loại thuốc viên hoàn đặc trị. Thuốc hoàn toàn trong danh mục đông dược (không có thuốc tây, thuốc kích thích trộn vào), chữa được nhiều loại bệnh mãn tính, mà trên thị trường chưa có thuốc trị hiệu quả. Thuốc khá an toàn cả vào gốc và ngọn bệnh nên khi khỏi ít tái phát.

Tiền thuốc thường là gánh nặng của người bệnh mãn tính, nan y, thuốc tôi chế ra từ ngày 01/05/2012 giá thuốc 200 ngàn/1 gói (Uống trong 8 – 30 ngày/gói tùy từng loại thuốc). 1 ngày bệnh nhân uống thường từ 12-40 ngàn/ngày (Khi bệnh phức tạp phải kết hợp uống nhiều loại thuốc thì thuốc viên do tôi chế uống cũng không vượt quá 1,2 triệu/tháng).

Khi lấy thuốc tại nhà tôi, những người già từ 60 tuổi trở lên, những người thương binh, khuyết tật, người làm từ thiện, sư, chùa, hoặc cảm nhận những hoàn cảnh đặc biệt được giảm 180 ngàn/1 gói. Một số trường hợp bất khả kháng, mất khả năng lao động, không nơi nương tựa tôi thường chữa miễn phí.

Một số loại thuốc xoang, dạ dày, đại tràng tôi bảo hành nếu uống tới 10 gói mà chưa khỏi, hay tái phát trong 15 tháng tôi chữa cho khỏi không phải trả tiền. Thông cảm, chia sẻ với người bị bệnh nan y, khi lấy thuốc gia đình tôi đang tài trợ từ 20 đến 100% tiền thuốc tùy từng trường hợp bệnh và hoàn cảnh bệnh nhân, một số người đã khỏi bệnh, ai bị bệnh nan y mà quan tâm tôi sẽ cho địa chỉ, điện thoại người mà tôi đã chữa khỏi. Khi bị bệnh mãn tính mà chữa nhiều nơi không khỏi, không nên bi quan. Đến với nhà thuốc có thể là một trong những địa chỉ chữa được bệnh của bạn.

Tuy thuốc chữa bệnh có hiệu quả cao nhưng không có bệnh nào chắc chắn khỏi 100%, cùng bệnh có người khỏi nhanh, người khỏi chậm, có người không khỏi khi có liên quan đến bệnh khác. Là thuốc đông y tuy an toàn, song người có cơ địa dị ứng, mẫn cảm với thuốc, viêm mũi dị ứng cũng dễ gây ra phản ứng phụ. Khi bị phản ứng khó chịu dừng thuốc, khi hết uống lại với liều bằng 1/3 sau tăng dần liều lượng tối đa 2/3 theo đơn thì phần lớn không bị phản ứng lại. Trường hợp vẫn phản ứng lại thì nên dừng thuốc tìm loại thuốc phù hợp với cơ thể.

Lời cảm ơn chân thành của gia đình tôi tới bệnh nhân đã và đang tin tưởng dùng thuốc của nhà thuốc. Cũng rất mong sự đóng góp chân thành đúng sự thật của người đã sử dụng thuốc để tôi hoàn thiện thuốc ngày một hiệu quả hơn.
Read more…

Bệnh trĩ, điều trị bệnh trĩ nội, trĩ ngoại

12:15 |
Bệnh trĩ, nhà thuốc chữa bệnh trĩ nội trĩ ngoại hiệu quả

Thuốc số 15: Chữa bệnh trĩĐiều trị bệnh trĩ nội - trĩ ngoại


Trĩ nội:
 được chia làm 4 độ
  • Độ 1: đi cầu ra máu nhưng chưa loài ra
  • Độ 2: đi cầu ra máu, loài ra thụt vào
  • Độ 3: đi cầu ra máu, phải nắn hoặc ấn mới thụt vào
  • Độ 4: không đi cầu vẫn loài ra, không thụt vào được

Trĩ ngoại: phía ngoài vành hậu môn tự phồng rộp lên.

Nguyên nhân của bệnh: chưa được xác định rõ ràng và chắc chắn. Những yếu tố sau đây được coi như là những điều kiện thuận lợi cho bệnh phát sinh:

-Táo bón kinh niên: Những bệnh nhân này mỗi khi đi cầu rặn nhiều, khi rặn áp lực trong lòng ống hậu môn tăng lên gấp 10 lần. Táo bón lâu ngày làm xuất hiện các búi trĩ. Các búi trĩ dần dần to lên và khi to quá sẽ sa ra ngoài.

-Hội chứng lỵ: Những bệnh nhân bị bệnh lỵ mỗi ngày đại tiện nhiều lần và mỗi lần đại tiện phải rặn nhiều làm tăng áp lực trong ổ bụng.

-Tăng áp lực ổ bụng: Những bệnh nhân viêm phế quản mạn tính, những bệnh nhân dãn phế quản, phải ho nhiều, những người làm lao động nặng như khuân vác... làm tăng áp lực trong ổ bụng, dễ dàng cho bệnh trĩ xuất hiện.

-Tư thế đứng: khi nghiên cứu áp lực tĩnh mạch trĩ, người ta ghi nhận áp lực tĩnh mạch trĩ là 25cm H2O ở tư thế nằm, tăng vọt lên 75cm H2O ở tư thế đứng. Vì vậy, tỉ lệ mắc bệnh trĩ ở người phải đứng lâu, ngồi nhiều, ít đi lại như thư ký bàn giấy, nhân viên bán hàng, thợ may ...

- U bướu hậu môn trực tràng và vùng chung quanh: như ung thư trực tràng, u bướu vùng tiểu khung, thai nhiều tháng… khi to có thể chèn ép và cản trở đường về tĩnh mạch hồi lưu làm cho các đám rối trĩ căng phồng lên tạo thành bệnh trĩ. Trong những trường hợp này, trĩ được tạo nên do những nguyên nhân cụ thể, rõ ràng nên được gọi là trĩ triệu chứng, khi điều trị ta phải điều trị nguyên nhân chứ không trị như bệnh trĩ.

Tác dụng của thuốc: thu sáp, co lại, nhuận tràng, chống viêm, cầm máu.

Dùng để chữa: trĩ nội, trĩ ngoại, dạ dày, chằng, sa ruột ra tử cung ở phụ nữ sinh nhiều con.

Chú ý:
  • Nếu đi cầu táo kết hợp số 15 với số 8 trị táo bón mới hết chảy máu.
  • Nếu đi cầu bị phồng, rát kết hợp số 15, số 8(giải độc) và số 4(chữa phình đại tế bào) mới khỏi.
  • Bệnh nhân thường uống từ 3-5 gói thì khỏi, không tái phát lại.


Thuocbackimtuan.com
Read more…

Phòng chống hiệu quả bệnh tim mạch

10:23 |
Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới, bệnh tim mạch là một trong những nguyên nhân gây tử vong cao nhất. Tuy nhiên, chế độ ăn uống và thói quen sinh hoạt có vai trò quan trọng tác động đến tình trạng bệnh tim mạch của mỗi người. Bệnh tim mạch tuy nguy hiểm nhưng có thể phòng ngừa và kiểm soát được, ngoài biện pháp dùng thuốc theo hướng dẫn của bác sĩ, chúng ta cần điều chỉnh chế độ sinh hoạt, ăn uống và thể dục.



Các biện pháp phòng bệnh tim mạch bao gồm:

Ăn ít muối giúp giảm huyết áp


Một nghiên cứu của Viện Tim, Phổi và Huyết học Quốc gia ở Mỹ liên quan đến những chế độ ăn uống ngăn chặn tăng huyết áp đã cho thấy chỉ cần ăn giới hạn muối trong khoảng 1,5g/ngày sẽ làm giảm đáng kể huyết áp ở cả hai nhóm người, nhóm ăn theo chế độ thông thường cũng như nhóm ăn theo chế độ kiểm soát huyết áp. Càng ăn ít muối huyết áp càng thấp. Trong khi đó, một khảo sát gần đây đã cho biết, người Việt chúng ta đang có khuynh hướng ăn khá nhiều muối. Lượng muối trung bình mỗi người tiêu thụ từ 18 – 22g mỗi ngày trong khi lượng khuyến cáo không quá 5g. Người đang có tăng huyết chỉ nên ăn khoảng 2 – 3g mỗi ngày. Ngoài việc giảm lượng muối trong khi nấu nướng, hạn chế dùng thêm muối hoặc nước chấm ở bàn ăn, cần cẩn thận với những loại thức ăn nhanh, những món ăn công nghiệp luôn có lượng muối khá cao.


Rau quả, ngũ cốc giúp giảm độ mỡ và điều hòa huyết áp.


Nhiều nghiên cứu khoa học khác nhau đều cho thấy, chất xơ trong rau quả và các loại đậu có tác dụng chuyển hóa chất béo và làm hạ huyết áp. Nhiều loại rau quả như khoai tây, bơ, dưa hấu, đậu nành có lượng K rất cao. Đặc biệt, chuối còn có tỷ lệ potassium/sodium có tác dụng rất tốt trong việc hạ huyết áp và chống đột quỵ. Lượng potassium cao còn giúp bù trừ lại phần nào khuynh hướng ăn vào lượng muối nhiều hơn khuyến cáo.

Ăn nhiều cá, hải sản, giảm các loại thịt đỏ

Thịt và mỡ động vật nhất là các loại thịt đỏ như thịt lợn, thịt bò, các loại sữa và trứng có hàm lượng mỡ bão hòa cao là nguồn gốc phát sinh ra các chứng xơ vữa. Do đó, các nhà khoa học khuyên nên chuyển dần chế độ ăn nhiều thịt sang ăn nhiều cá và đạm thực vật.

Acid béo omega 3 trong cá và các loại hạt có tác dụng làm hạ cholesterol xấu, tăng lượng cholesterol tốt. Ngược lại, thịt và trứng có nhiều chất mỡ bão hòa làm gia tăng lượng cholesterol xấu (LDL) đồng thời làm giảm lượng cholesterol tốt (HDL) có khả năng làm sạch lòng mạch. Nếu ăn thịt, chỉ nên ăn một ít thịt lợn, bò đã lọc bỏ mỡ hoặc thịt trắng như gà đã bỏ da, nội tạng. Chúng ta cũng cần cảnh giác với chất béo xấu và một lượng muối đáng kể luôn tiềm ẩn trong những sản phẩm thức ăn nhanh, thức ăn công nghiệp.

Bệnh đái tháo đường

Người bị đái tháo đường sẽ có nguy cơ bị bệnh tim mạch gấp 2 – 3 lần người không bị đái tháo đường. Khoảng 2/3 người có ĐTĐ sẽ tử vong vì những bệnh tim mạch. Chính vì vậy mà ai có ĐTĐ đều nên đặc biệt để ý và ngăn ngừa bệnh tim mạch. Dĩ nhiên chế độ ăn, thể dục, uống thuốc là quan trọng.
Hạn chế bia rượu

Tiêu thụ bia rượu vừa phải có thể chấp nhận được. Vừa phải là khoảng 360cc bia, hai lần một ngày cho nam giới, một lần cho nữ giới. Nhưng quá nhiều rượu sẽ đưa tới tăng huyết áp, tăng lượng chất béo triglycerid, giảm chất béo tốt HDL, tăng rủi ro vữa xơ động mạch. Hậu quả là bệnh tim mạch, tai biến não, suy tim.

Kiểm soát cân nặng

Cân nặng gọi là chuẩn nếu chỉ số khối cơ thể (BMI) nằm trong khoảng 18,5 – 24,9 (cách tính là lấy số kg cân nặng chia cho con số mét chiều cao đã bình phương, đơn vị là kg/m 2 ) và từ số 25 trở đi gọi là béo phì.

Một cách đơn giản hơn, chúng ta có thể đo vòng eo của mình bằng cách quấn thước dây quanh vòng eo ngang rốn vào buổi sáng sau khi đi tiểu xong chưa ăn uống gì ở tư thế đứng. Nếu vòng eo ≥ 90cm ở nam hoặc ≥ 80cm ở nữ thì được gọi là béo bụng. Mức độ nguy hiểm của người béo bụng cũng giống như béo phì.

Người béo phì sẽ có nguy cơ bị bệnh tim mạch tăng gấp 1,7 lần so với người không béo phì. Ngoài ra, béo phì còn là nguyên nhân gây rối loạn mỡ máu; 80% người đái tháo đường typ II là có béo phì.
Do đó, chúng ta cần phải có chế độ ăn kiêng hợp lý cũng như chế độ vận động giúp kiểm soát cân nặng trong giới hạn cho phép.

Không hút thuốc lá, thuốc lào


Hút thuốc lá làm tăng nguy cơ bị bệnh tim mạch. Thống kê cho thấy, người hút thuốc có tỷ lệ bị bệnh tim mạch cao hơn hai lần người không hút. Ai không hút nhưng phải hít khói của người hút cũng có nguy cơ mắc bệnh tim mạch hơn người thường. Chất nicotin trong thuốc lá làm mạch máu co hẹp, cản trở sự lưu thông của máu, làm huyết áp tăng. Khói thuốc lá làm tăng rủi ro vữa xơ động mạch và tăng các yếu tố làm đông máu. Hậu quả là các bệnh tim mạch, tai biến mạch máu não dễ dàng xảy ra.
Vì vậy, chúng ta hãy nói không với thuốc lá hoặc đang hút thì ngưng. Chỉ cần một quyết tâm cùng với sự hỗ trợ của gia đình là ta có thể bỏ thói quen nghiện thuốc lá.

Tập thể dục đều đặn

Giúp giảm đường, giảm mỡ, giảm cân, giảm huyết áp và giảm những bệnh tim mạch. Người có thể dục thường xuyên sẽ sống khỏe hơn, lâu dài hơn và sẽ có xương cứng hơn những người ít hoạt động. Nên thể thao khoảng hơn 30 phút, 4 hoặc 5 ngày mỗi tuần.

Ths.BS. Nguyễn Chương Bình - Benhgout.com
Read more…

Triệu chứng của bệnh tim mạch

10:23 |
Triệu chứng của bệnh tim mạch: Bệnh tim mạch là căn bệnh giết người thầm lặng. Tuy nhiên, nếu thực sự quan tâm và biết lắng nghe cơ thể mình lên tiếng, mỗi người sẽ biết được những vấn đề đang xảy ra. Trước hết, cần biết được các triệu chứng của bệnh tim mạch để phát hiện và chữa trị kịp thời.

Những triệu chứng của bệnh tim mạch hàng đầu phải kể đến là: khó thở, đau ngực, mệt, hồi hộp đánh trống ngực, ngất, tăng cân đột ngột, đau chi, thay đổi mạch và huyết áp. Trong khi đó, cần phân biệt những triệu chứng trên với những bệnh lý có triệu chứng tương tự. Ví dụ như, khó thở có thể là triệu chứng ở cả bệnh tim và bệnh phổi. Tuy nhiên, khó thở ở bệnh tim mạch có những đặc trưng xuất hiện khi gắng sức như leo cầu thang, hoạt động nặng gặp ở giai đoạn đầu của bệnh. Khi bệnh nặng hơn, người bệnh sẽ thấy khó thở khi nằm nên người bệnh thường phải kê nhiều gối để có thể hô hấp được dễ dàng hơn.


Khó thở

Các triệu chứng của bệnh tim mạch luôn là sự báo hiệu những bất ổn, bệnh lý ở bên trong cơ thể. Cơn đau ngực là sự báo hiệu cho bệnh tim thiếu máu cục bộ; hẹp,hở van động mạch chủ; viêm màng ngoài tim. Những cơn đau ngục đôi khi là sự báo trước của một cơn nhồi máu cơ tim. Hay những cơn mệt ập đến khiên người bệnh phải nghỉ ngơi một lúc lâu sau mới có thể hoàn thành hoạt động đang làm vốn trước đây không làm họ mệt. Mệt có thể là biểu hiện của giảm tưới máu cơ quan tổ chức, mất ngủ do tiểu đêm, khó thở do gắng sức hoặc khó thở kịch phát vào ban đêm. Hay triệu chứng hồi hộp đánh trống ngực là do rối loạn nhịp tim hoặc xảy ra sau hoạt động thể lực căng thẳng. Việc tăng cân đột ngọt có thể do giữ muối và nuocs do các nguyên nhân toàn thể khác hoặc do tắc nghẽn tĩnh mạch gây phù khu trú ở vùng tĩnh mạch bị tắc, cũng có thể là dấu hiệu chỉ điểm của suy tim phải.

Biết được những triệu chứng của bệnh tim mạch chính là những biện pháp cần thiết nhất để tự cứu lấy mình. Hãy quan tâm hơn đến sức khoẻ và thường xuyên cập nhật những kiến thức về sức khoẻ để có một đời sống khoẻ mạnh, hạnh phúc.


_____________o0o_______________

Trái tim có triệu chứng bệnh khác nhau, tùy thuộc vào loại bệnh tim có. Các triệu chứng của bệnh tim có triệu chứng mạch máu (Bệnh tim mạch)

Bệnh tim mạch là do mạch máu bị hẹp, bị chặn hoặc cứng làm cho tim, não hoặc các bộ phận khác của cơ thể không nhận đủ máu. Triệu chứng bệnh tim mạch có thể bao gồm:
  • Đau ngực (đau thắt ngực).
  • Khó thở.
  • Đau, tê, yếu hoặc lạnh ở chân hoặc cánh tay, nếu các mạch máu ở những bộ phận của cơ thể thu hẹp.
Có thể không được chẩn đoán mắc bệnh tim mạch cho đến khi nặng hơn tình trạng đến mức có một cơn đau tim, đau ngực (đau thắt ngực), đột quỵ, suy tim hoặc tử vong đột ngột. Điều quan trọng là để xem các triệu chứng tim mạch và thảo luận về bất kỳ vấn đề với bác sĩ. Bệnh tim mạch đôi khi có thể được tìm thấy với các chuyến thăm khám thường xuyên với bác sĩ .
Bệnh tim có triệu chứng gây ra do nhịp tim bất thường (loạn nhịp tim)
Rối loạn nhịp tim là một nhịp tim bất thường. Trái tim có thể đập quá nhanh, quá chậm, hoặc đột xuất nếu có một chứng loạn nhịp tim. Triệu chứng loạn nhịp tim có thể bao gồm:
  • Một rung cảm trong lồng ngực.
  • Một nhịp tim đua (nhịp tim nhanh).
  • Một nhịp tim chậm (nhịp tim chậm).
  • Đau ngực.
  • Khó thở.
  • Hoa mắt.
  • Chóng mặt.
  • Ngất xỉu (ngất) hoặc gần ngất.
  • Bệnh tim có triệu chứng gây ra do khuyết tật tim
Khuyết tật tim bẩm sinh nghiêm trọng - một khiếm khuyết khi sinh - thường trở nên rõ ràng trong vài giờ đầu tiên, ngày, tuần và tháng của cuộc sống. Triệu chứng tim khiếm khuyết có thể bao gồm:
  • Da màu nhạt xám hoặc xanh (xanh tím).
  • Phù chân, bụng, vùng quanh mắt.
  • Khó thở trong khi ăn, dẫn đến giảm cân.
Các khuyết tật tim bẩm sinh ít nghiêm trọng thường không được chẩn đoán cho đến khi trong thời thơ ấu sau này, hoặc thậm chí cả tuổi trưởng thành. Các dấu hiệu và triệu chứng của dị tật tim bẩm sinh thường không phải là ngay lập tức đe dọa tính mạng bao gồm:
  • Dễ dàng trở thành hụt hơi trong khi luyện tập hoặc hoạt động.
  • Dễ dàng mệt mỏi trong khi luyện tập hoặc hoạt động.
  • Tích tụ chất lỏng trong tim hoặc phổi.
  • Phù ở tay, mắt cá chân hoặc bàn chân.
  • Trái tim có triệu chứng bệnh gây ra do cơ tim dày (bệnh cơ tim)
Bệnh cơ tim là dày và cứng cơ tim. Trong giai đoạn đầu của bệnh cơ tim, có thể không có triệu chứng. Khi tình trạng bệnh nặng hơn, các triệu chứng bệnh cơ tim bao gồm:
  • Khó thở với gắng sức hoặc thậm chí nghỉ ngơi.
  • Phù chân, mắt cá chân và bàn chân.
  • Đầy hơi (chướng) bụng với chất lỏng.
  • Mệt mỏi.
  • Không thường xuyên cảm thấy tim đập nhanh.
  • Chóng mặt, hoa mắt và ngất xỉu.
  • Bệnh tim có triệu chứng gây ra bởi nhiễm trùng tim
Có ba loại bệnh tim: Bệnh viêm màng ngoài tim, có ảnh hưởng đến các mô xung quanh trái tim (màng ngoài tim); Bệnh viêm cơ tim, ảnh hưởng tới lớp cơ ở giữa những bức thành của trái tim (cơ tim); và viêm nội tâm mạc, ảnh hưởng đến các màng tế bào bên trong phân cách các buồng và van tim (màng trong tim). Thay đổi một chút với từng loại nhiễm trùng, triệu chứng nhiễm trùng có thể bao gồm:
  • Sốt.
  • Khó thở.
  • Điểm yếu hay mệt mỏi.
  • Phù ở chân hoặc bụng.
  • Thay đổi nhịp tim.
  • Ho khan hoặc ho dai dẳng.
  • Da phát ban hoặc các điểm bất thường.
  • Trái tim có triệu chứng bệnh gây ra bởi bệnh van tim
Tim có bốn van - van động mạch chủ, van hai lá, van động mạch phổi và van ba lá - mở và đóng chảy máu trực tiếp thông qua trái tim. Van có thể bị hư hại bởi một loạt các điều kiện dẫn đến thu hẹp (hẹp), bị rò rỉ (hở) hoặc đóng không đúng cách (sa). Tùy thuộc vào van hoạt động không đúng, van tim có triệu chứng bệnh thông thường bao gồm:
  • Mệt mỏi.
  • Khó thở.
  • Nhịp tim bất thường hoặc tiếng thổi.
  • Phù chân hoặc mắt cá chân.
  • Đau ngực.
  • Ngất xỉu (syncope).
  • Đến gặp bác sĩ khi
  • Tìm kiếm sự chăm sóc y tế khẩn cấp nếu có những triệu chứng bệnh tim:
  • Đau ngực.
  • Khó thở.
  • Bất tỉnh.
Bệnh tim là dễ dàng để điều trị khi nó được phát hiện sớm, nói chuyện với bác sĩ về bất kỳ mối quan tâm của quý vị về sức khỏe tim. Nếu không có bệnh tim, nhưng có quan tâm về phát triển bệnh tim, hãy nói chuyện với bác sĩ về các bước có thể làm để giảm nguy cơ bệnh tim. Điều này đặc biệt đúng nếu có tiền sử gia đình mắc bệnh tim.
Nếu nghĩ rằng có thể có bệnh tim mạch dựa trên dấu hiệu mới hoặc triệu chứng đã có, làm một cuộc hẹn để gặp bác sĩ.

(Tổng hợp)
Read more…

Biểu hiện của bệnh tim mạch

10:22 |
Việc phát hiện sớm biểu hiện của bệnh tim mạch có vai trò hết sức quan trọng giúp ngăn ngừa hoặc giảm bớt các tai biến chết người của nó. Ðồng thời còn đem lại cho chúng ta cơ hội sớm được tiếp cận các phương pháp điều trị mới để có thể đạt kết quả chữa bệnh tốt nhất. Dưới đây là các biểu hiện cần được chú ý.

Khó thở

Khó thở do bệnh tim mạch thường xuất hiện khi khả năng bơm máu của quả tim bị suy yếu hoặc có sự cản trở trên đường dòng máu chảy từ quả tim vào các mạch máu. Khi sức bơm máu của quả tim giảm xuống sẽ gây ra khó thở do ứ trệ máu và dịch, điều này dẫn tới sự gia tăng áp lực máu ở phổi gây rò rỉ dịch vào các phế nang (túi khí nhỏ ở phổi).

Khó thở đột ngột về đêm là cơn khó thở xuất hiện khoảng vài giờ sau khi bạn đi ngủ, là hậu quả của lượng dịch tích tụ ở hai chân chúng ta ban ngày thấm trở lại dòng máu khi bạn nghỉ ngơi vào ban đêm. Hiện tượng này làm tăng gánh nặng cho quả tim và tăng áp lực máu ở phổi gây cơn khó thở.



Ðau ngựcNhồi máu cơ tim hoặc cơn đau thắt ngực không ổn định xảy ra khi một trong các nhánh của động mạch vành bị lấp tắc hoàn toàn hoặc gần hoàn toàn. Triệu chứng đau ngực trong nhồi máu cơ tim cũng có tính chất giống như cơn đau thắt ngực nhưng kéo dài hơn (>20 phút) và không thuyên giảm khi ta nghỉ ngơi và khi bệnh nhân dùng một số thuốc giãn mạch. Ngoại trừ một số trường hợp nhồi máu cơ tim “thầm lặng” tức không gây đau ngực, nhìn chung cơn đau ngực trong nhồi máu cơ tim thường dữ dội và hay kèm theo cảm giác buồn nôn, ớn lạnh, vã mồ hôi và trạng thái hết sức lo âu. Đây là một cấp cứu nên cần phải được quan tâm và có hành động kịp thời.

Viêm màng ngoài tim là một nguyên nhân nữa gây đau ngực. Quả tim cũng như các lá phổi được bao bọc bởi một lớp màng kép, bình thường mỏng như giấy bóng kính. Viêm màng ngoài tim là khi hai lá màng này bị viêm, dày lên và cọ xát vào nhau khi quả tim đập gây đau ngực. Viêm màng ngoài tim thường do virus, đặc biệt là nhóm virus có tên Coxsackie.

Đau ngực do tim có thể do một số nguyên nhân khác như là: Bệnh lý van tim đặc biệt là hẹp hoặc hở van động mạch chủ.

Đau ngực cơ năng hay đau ngực do căn nguyên tâm lý đôi khi rất khó xác định vì thực tế một số trường hợp có thêm bệnh lý thực tổn đi kèm. Một nghiên cứu được tiến hành trên những phụ nữ tuổi trung niên có biểu hiện đau ngực nhưng không hẹp động mạch vành cho thấy: sự mất thăng bằng về nội tiết là một trong số các nguyên nhân gây ra cơn đau.

Ðánh trống ngực

Nhịp tim nhanh và không đều, còn gọi là rối loạn nhịp, có thể xảy ra ở người khoẻ mạnh nhưng cũng có thể là một biểu hiện gợi ý bệnh tim mạch. Nhịp tim rất nhanh xuất hiện không liên quan đến gắng sức thường do các rối loạn gọi là tim nhanh kịch phát trên thất hay tim nhanh nhĩ kịch phát, các thuật ngữ y học này để chỉ nhịp tim nhanh có căn nguyên từ các buồng phía trên của quả tim, gọi là tâm nhĩ. Lúc này có thể bạn vẫn cảm thấy bình thường ngoại trừ cảm giác đánh trống ngực. Các cơn tim nhanh trên thất thường không kéo dài và nếu thấy chúng kéo dài nhiều phút thì bạn cần đi gặp bác sĩ.
Nguy hiểm nhất là hiện tượng gọi là tim nhanh thất, thường gặp ở những người có bệnh tim mạch thực sự. Tim đập nhanh bắt nguồn từ các buồng tim phía dưới, có chức năng bơm máu gọi là các tâm thất. Người bị tim nhanh thất thường rất mệt và khó thở do lượng máu quả tim bơm đi nuôi cơ thể bị sút giảm đáng kể.

Ngất xỉu

Bệnh tim mạch thường gây ngất xỉu nhất là các rối loạn về nhịp như nghẽn nhĩ thất (tim đập đều đặn là do những tín hiệu thần kinh được truyền nhịp nhàng từ tâm nhĩ xuống tâm thất, nghẽn nhĩ thất là khi sự dẫn truyền này bị gián đoạn). Lúc đó tim sẽ đập rất chậm, không đủ khả năng đưa máu và dưỡng khí lên nuôi bộ não. Ngược lại, vì một lý do nào đó khi tim đập quá nhanh (nhiều hơn 150 lần trong một phút), khả năng bơm máu lên não của tim bị giảm sút cũng có thể gây ngất.

Nếu chỉ là ngất (mất ý thức) thì hãy để ngay bệnh nhân nằm nơi thoáng, nới rộng quần áo, có thể nhấc bổng 2 chân bệnh nhân lên để tăng cường máu về tim và não cần theo dõi để có thể cấp cứu hồi sinh tim phổi ngay nếu bệnh nhân chuyển sang tình trạng ngừng tuần hoàn.

Phù

Về bản chất hiện tượng phù là do nước thoát quản khỏi lòng mạch để ứ đọng ở khoảng gian bào gây phù. Do vậy thực tế thường phát hiện được phù ở các vị trí trên nền xương cứng hoặc nơi mô lỏng lẻo. Trong các bệnh tim mạch, vì lý do nào đó mà tuần hoàn ở hệ tĩnh mạch bị ứ trệ (thường do suy tim bên phải) làm tăng áp lực trong lòng tĩnh mạch gây hiện tượng nước trong tĩnh mạch ra ngoài gian bào ứ đọng gây phù. Một số trường hợp tắc tĩnh mạch cũng gây phù, nhưng ở đây là phù cục bộ tương ứng trước chỗ tắc tĩnh mạch.

Tím tái

Tím trung ương khi máu tĩnh mạch và máu động mạch bị trộn lẫn với nhau ngay trong quả tim do một luồng thông bẩm sinh nằm giữa tim trái và tim phải hoặc do khuyết tật di truyền tạo nên một buồng tim chung (máu động mạch có màu đỏ tươi do giàu ôxy còn máu tĩnh mạch có màu đỏ thẫm do đã nhường ôxy cho cơ thể). Tím trung ương cũng có thể do một bệnh lý phổi đang tiến triển như khí phế thũng ngăn cản ôxy hoà tan vào máu động mạch.

Tím ngoại vi là dạng tím thường do sự ứ trệ tuần hoàn hoặc trao đổi khí kém. 
Trong thực tế, ta tương đối dễ dàng phân biệt hai loại tím trên qua các dấu hiệu của chúng. Tím ngoại vi thường xuất hiện ở những vùng da hở như đầu ngón tay, cằm, mũi và môi. Trong khi tím trung ương xuất hiện ở quanh kết mạc mắt, niêm mạc ở trong họng và lưỡi.

Mệt mỏi

Tình trạng mệt mỏi ở người mắc bệnh tim mạch còn có thể do thuốc gây ra, khoảng 10% số người dùng thuốc điều trị hạ huyết áp than phiền vì cảm thấy mệt mỏi tăng lên.
Nhiều bệnh thể chất khác gây mệt mỏi bao gồm thiếu máu và các bệnh mạn tính như suy nhược tuyến giáp, đái đường và bệnh lý về phổi...

Nếu bạn cảm thấy mệt mỏi ngay từ khi thức giấc cho tới cuối ngày với một mức độ gần như không đổi thì nguyên nhân có lẽ do rối loạn tâm thần hơn là bệnh tim mạch, thường nhất là chứng trầm cảm.



Dấu hiệu đi cách hồi 
Tắc cấp tính:
Các biểu hiện của tắc động mạch ngoại vi cấp (đặc biệt là tắc động mạch chi dưới) được mô tả kinh điển là hội chứng nhiều chữ “P” (theo tiếng Anh):
Painess - Đau đột ngột chi bị tắc. Đau có thể xảy ra trên một chi đã từng có triệu chứng đau cách hồi trước đó hoặc không. Đau có thể rất dữ dội và liên tục, Pallor - xanh tái chi bị tắc động mạch nuôi dưỡng, Pulseless - mất mạch vùng chi bị tắc. Trong trường hợp tắc động mạch chủ bụng hoặc động mạch chậu gốc, thì mất mạch cả hai bên, Paralysis – liệt bên chi bị tắc mạch. Mức độ nhẹ hơn là yếu bên chi bị tắc động mạch. Khi bị tắc động mạch chủ bụng có thể gây liệt cả 2 chi dưới, Poikilothermia – lạnh bên chi bị tắc mạch. Nếu bị tắc động mạch chủ bụng thì cả 2 chi dưới bị lạnh hơn.
Tắc mạn tính:
Trong trường hợp nặng, đau có thể tồn tại ngay cả khi nghỉ, xuất hiện ở đoạn xa của chi, có thể xuất hiện khi ngủ và để giảm đau bệnh nhân thường phải để thõng chân tự do ngoài thành giường hoặc ghế.
Nhiều trường hợp bệnh nhân chỉ có dấu hiệu đau cách hồi còn khám chi bình thường. Tuy nhiên khi bệnh tiến triển, có thể thấy các dấu hiệu sau:
- Mạch bên chi bị tổn thương động mạch yếu hơn hoặc có thể mất ở một số vị trí.
- Bên chi bị tắc mạch mạn tính thường nhỏ hơn, da khô, móng và lông kém phát triển, bong vảy và có thể lạnh hơn bên chi không bị bệnh mạch.
Trong trường hợp bị nặng, có thể thấy các dấu hiệu loét, hoại tử các vùng viễn cực (đầu chi, gót chân). Các tổn thương loét hoặc nhiễm trùng đặc biệt dễ xảy ra khi bệnh nhân bị chấn thương.

GS.TS. Nguyễn Lân Việt - Suckhoedoisong
Read more…